Giáo dục – nền tảng quyết định năng lực số quốc gia
Lượt xem:
Việt Nam đang đi rất nhanh trong hành trình chuyển đổi số, nhưng tốc độ chưa đủ để tạo sức mạnh bền vững nếu nền tảng nhân lực vẫn yếu. Theo PGS.TS. Lưu Bích Ngọc – Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, “đi nhanh nhưng chưa vững” chính là nghịch lý của kinh tế số Việt Nam hiện nay. Khi giáo dục và đào tạo chưa kịp đổi mới để hình thành năng lực số cho công dân, mọi nỗ lực đầu tư hạ tầng và công nghệ có thể chỉ dừng lại ở lớp vỏ phát triển.Quy mô nền kinh tế số Việt Nam đã đạt khoảng 30 tỷ USD vào năm 2023, đứng thứ hai khu vực về tốc độ tăng trưởng
Trong bức tranh phát triển kinh tế số Đông Nam Á, Việt Nam được xem là điểm sáng về tốc độ. Theo các báo cáo quốc tế, quy mô nền kinh tế số Việt Nam đã đạt khoảng 30 tỷ USD vào năm 2023, đứng thứ hai khu vực về tốc độ tăng trưởng. Hạ tầng viễn thông, chính phủ điện tử, thanh toán số và các dịch vụ trực tuyến phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Cùng với đó, nhiều chính sách lớn đã được ban hành: Nghị quyết 52-NQ/TW (2019) về chủ trương tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định 749/QĐ-TTg (2020) phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia; và Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong ba đột phá chiến lược.
Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng ấn tượng là một thực tế đáng suy nghĩ. PGS.TS. Lưu Bích Ngọc, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, nhận định: “Việt Nam phát triển nhanh về hạ tầng và chính sách, nhưng yếu ở trụ cột nhân lực. Nếu không giải quyết được bài toán nhân lực số, mọi nỗ lực về hạ tầng và công nghệ sẽ không phát huy hết giá trị”.
PGS.TS Lưu Bích Ngọc cho rằng: Chuyển đổi số cần nhân lực vừa giỏi công nghệ, vừa biết tư duy và học hỏi không ngừng.
“Đi nhanh nhưng chưa đi vững”
Theo thống kê công khai, hơn 70% lực lượng lao động Việt Nam chưa qua đào tạo chính quy. Các khảo sát khu vực ASEAN cũng cho thấy kỹ năng số trung bình của lao động Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp – đặc biệt trong các ngành sản xuất, công nghiệp chế biến, dịch vụ số đang thiếu nghiêm trọng nhân lực có khả năng vận hành, phân tích và đổi mới trên nền tảng công nghệ.
PGS.TS. Ngọc cho rằng: “Chuyển đổi số đòi hỏi nhân lực không chỉ có kiến thức kỹ thuật mà còn phải có khả năng tư duy, phân tích và học tập suốt đời. Đó là những phẩm chất được hình thành từ giáo dục”.
Bà chỉ rõ, điểm nghẽn lớn nằm ở năng lực thích ứng của hệ thống giáo dục. Trong khi thế giới đã chuyển mạnh sang mô hình đào tạo linh hoạt, cá nhân hóa, kết hợp giữa học thuật và kỹ năng thực hành, thì Việt Nam vẫn nặng về lý thuyết, ít gắn với thực tế doanh nghiệp. “Chúng ta có chương trình, có công nghệ, có hạ tầng, nhưng chưa có đủ con người để vận hành và sáng tạo trong môi trường số. Giáo dục phải đi trước một bước thì kinh tế số mới có nền tảng vững chắc”, bà cho biết.
Giáo dục là “máy cái” của phát triển số
Theo Báo cáo Taking Stock: Vietnam Economic Update 2025 của Ngân hàng Thế giới, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao dựa trên công nghệ, Việt Nam cần tăng đầu tư vào giáo dục chất lượng và phát triển kỹ năng số, đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ lao động trình độ cao và thúc đẩy gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp. Báo cáo Global Skills Report 2025 của Coursera, lĩnh vực trí tuệ nhân tạo sinh (Generative AI) cũng ghi nhận mức tăng trưởng người học cao nhất – tăng 195% so với năm trước – cho thấy nhu cầu đào tạo về kỹ năng AI và dữ liệu đang bùng nổ toàn cầu, đặt áp lực lên hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực.
Ở Việt Nam, để hình thành xã hội số, kinh tế số phải bắt đầu từ năng lực số của công dân, của lực lượng lao động chứ không chỉ dừng ở năng lực số của doanh nghiệp hay cơ quan quản lý. Trong đó, giáo dục số – từ phổ thông, dạy nghề đến đại học – là khâu then chốt tạo nên nguồn nhân lực số cho quốc gia. PGS.TS. Ngọc so sánh: “Nếu coi kinh tế số là cỗ máy, thì giáo dục chính là máy cái. Máy cái có tốt thì các bộ phận khác mới vận hành hiệu quả”.
Trên thực tế, dù tỷ lệ người dân tiếp cận Internet đã trên 75% và gần 100% trường học có kết nối mạng, song việc ứng dụng công nghệ trong dạy và học mới chỉ dừng ở mức công cụ. Phần lớn giáo viên vẫn thiếu kỹ năng số cơ bản, trong khi chương trình đào tạo sư phạm chưa chú trọng phát triển năng lực số cho người học.


